Mẹ Thứ là biểu tượng cao đẹp cho sự hy sinh vô bờ bến và lòng yêu nước của phụ nữ Việt Nam. Cuộc đời Mẹ gắn liền với những đau thương mất mát lớn lao nhưng kiên cường vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Về mẹ Nguyễn Thị Thứ
Mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904 tại thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam và qua đời ngày 10/12/2010, hưởng thọ 106 tuổi.

Mẹ là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng tiêu biểu, đại diện cho hàng triệu người mẹ Việt Nam giàu lòng yêu nước và đức hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Chồng của Mẹ Nguyễn Thị Thứ là cụ Lê Tự Trị (1901 – 1989), một nông dân kiên trung cùng quê. Hai vợ chồng sinh được 12 người con, gồm 11 người con trai và 1 người con gái.
Sinh ra và lớn lên trên vùng đất Quảng Nam kiên cường, nơi từng là chiến trường ác liệt và căn cứ cách mạng quan trọng, Mẹ Thứ đã chứng kiến trọn vẹn những đau thương, mất mát do chiến tranh gây ra.
Dù chịu đựng muôn vàn gian khổ, Mẹ vẫn giữ vững niềm tin vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, trở thành hậu phương vững chắc cho chồng, các con và các lực lượng bộ đội hoạt động tại địa phương.
Sự hy sinh vĩ đại của Mẹ Thứ: 12 Liệt sĩ trong 1 gia đình
Trên thế giới này, hiếm có người mẹ nào phải gánh chịu nỗi đau chiến tranh lớn như Mẹ Thứ. Tổng cộng, gia đình Mẹ có 12 người thân là liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của dân tộc.
Lần lượt nhận 9 giấy báo tử của 9 người con trai

Mẹ Thứ và cụ Lê Tự Trị sinh được 12 người con. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, các con của Mẹ Thứ lần lượt lên đường ra trận. Nỗi đau chồng chất khi 9 người con trai của Mẹ đều lần lượt anh dũng hy sinh trên các chiến trường:
- Liệt sĩ Lê Tự Xuyến: Hy sinh năm 1948 khi đang làm nhiệm vụ giao liên.
- Liệt sĩ Lê Tự Hàn (anh): Hy sinh năm 1948 trong lúc làm nhiệm vụ tải thương.
- Liệt sĩ Lê Tự Hàn (em): Hy sinh năm 1948 tại mặt trận Điện Bàn, Quảng Nam.
- Liệt sĩ Lê Tự Lem: Hy sinh năm 1954 khi vừa tròn 20 tuổi.
- Liệt sĩ Lê Tự Nự: Hy sinh năm 1966 tại mặt trận Khu 5.
- Liệt sĩ Lê Tự Mười: Hy sinh năm 1972 tại chiến trường Tây Nguyên.
- Liệt sĩ Lê Tự Trịnh: Hy sinh năm 1972 ngay trên quê hương Quảng Nam.
- Liệt sĩ Lê Tự Thịnh: Đại đội trưởng bộ đội huyện Duy Xuyên, hy sinh năm 1974 trong trận đánh công đồn.
- Liệt sĩ Lê Tự Chuyển (Lê Tự Truyện): Chiến sĩ biệt động Sài Gòn, hy sinh lúc 9 giờ sáng ngày 30/04/1975 tại khu vực cầu Rạch Chiếc – chỉ vài giờ trước thời điểm đất nước hoàn toàn giải phóng.
1 người con rể và 2 cháu ngoại

Nỗi đau của Mẹ Thứ không dừng lại ở 9 người con trai. Gia đình Mẹ tiếp tục gánh chịu thêm sự hy sinh của 1 người con rể và 2 người cháu ngoại:
- Con rể Ngô Tưởng (chồng của bà Lê Thị Trị – con gái cả của Mẹ): Bị địch bắt, tra tấn và hy sinh trong xà lim nhà tù năm 1956.
- Cháu ngoại Ngô Thị Điều (con gái bà Lê Thị Trị): Làm nhiệm vụ giao liên, bị thương nặng và hy sinh năm 1970.
- Cháu ngoại Ngô Thị Cúc (con gái bà Lê Thị Trị): Hy sinh năm 1973 khi đang làm nhiệm vụ du kích địa phương.
Mẹ Thứ và mạng lưới hầm bí mật nuôi giấu cán bộ
Không chỉ động viên con cháu lên đường ra trận, Mẹ Nguyễn Thị Thứ còn biến chính ngôi nhà và khu vườn của mình thành cơ sở hoạt động cách mạng an toàn, bảo vệ hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ trong những năm tháng ác liệt nhất của chiến tranh.
Căn hầm bí mật ngay trong lòng đất quê hương
Quê hương Điện Bàn (Quảng Nam) là vùng trọng điểm càn quét của quân địch. Để giữ bí mật cho lực lượng cách mạng, Mẹ Thứ cùng người con gái cả là bà Lê Thị Trị đã âm thầm đào 5 căn hầm bí mật ngay trong khu vườn nhà ở thôn Thanh Quýt.
Các căn hầm được đào khéo léo dưới các gốc bụi tre, bụi mít, khoai lang hoặc cạnh chuồng bò nhằm tránh sự phát hiện của biệt kích và quân đi tuần.
Đây là nơi trú ẩn an toàn cho các cán bộ chủ chốt, du kích địa phương và bộ đội thuộc Khu 5 trong những đợt địch truy quét gắt gao.
Mẹo ngụy trang tài tình và sự dũng cảm của Mẹ

Dù địch thường xuyên đóng bốt, tổ chức càn quét và khám xét nhà Mẹ, Mẹ Thứ vẫn giữ được sự bình tĩnh và khéo léo để bảo vệ lực lượng dưới lòng đất.
Mẹ giả vờ làm ruộng, cắt cỏ, chăn nuôi bò quanh vườn để nắm bắt di chuyển của quân địch. Khi nhận thấy khu vực an toàn, Mẹ mới mở nắp hầm hoặc phát tín hiệu như giả vờ gọi bò, thu dọn đồ đạc, cho cán bộ bước lên.
Ngay trong vùng kiểm soát của địch, Mẹ Thứ trực tiếp nấu cơm, tiếp tế thực phẩm, thuốc men, khâu vá áo quần và chăm sóc sức khỏe cho các chiến sĩ du kích.
Trong suốt hai cuộc kháng chiến, mạng lưới hầm bí mật tại nhà Mẹ Thứ chưa từng bị lộ, bảo vệ an toàn cho nhiều lượt cán bộ cách mạng kinh qua chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng.
Tôn vinh và tri ân Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ
Sự hy sinh vô bờ bến của Mẹ Nguyễn Thị Thứ cùng gia đình là biểu tượng cao đẹp của lòng yêu nước. Sự đóng góp vĩ đại đó đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trân trọng ghi nhận bằng nhiều danh hiệu cao quý và công trình lịch sử cấp quốc gia.
Danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh Hùng năm 1994
Ngày 17/12/1994, Mẹ Nguyễn Thị Thứ được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đợt đầu tiên.
Mẹ cũng được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất và Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng vì những cống hiến to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng tại Quảng Nam

Để tri ân Mẹ Thứ và hàng triệu người mẹ Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước, công trình Quần thể Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng đã được xây dựng dựa trên nguyên mẫu của Mẹ.
- Địa điểm: Nằm trên đỉnh núi Cấm, thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
- Quy mô công trình: Đây là công trình văn hóa – lịch sử cấp quốc gia với tổng diện tích 15 ha, khởi công năm 2009 và hoàn thành năm 2015.
Bức tượng chính khắc họa khuôn mặt nhân hậu, kiên cường của Mẹ Nguyễn Thị Thứ. Toàn bộ tượng đài được tạc bằng đá sa thạch (đá cát kết) nguyên khối vận chuyển từ Bình Định.
Khối tượng chính hình cánh cung dài 120m, ở giữa là chân dung Mẹ cao 18,5m, hai bên là các khối đá nhấp nhô tượng trưng cho các làn sóng nước ôm trọn các con vào lòng – biểu tượng cho tình Mẹ Tổ quốc dành cho các thế hệ anh hùng liệt sĩ.
Xem thêm: Hòa Thượng Thích Quảng Đức – Tiểu Sử Cuộc Đời, Sự Kiện 1963 Và Di Sản Để Lại
Lời kết
Mẹ Nguyễn Thị Thứ đã đi vào lịch sử như một biểu tượng bất tử của lòng mẫu tử và tinh thần quật cường dân tộc. Nỗi đau 12 lần tiễn đưa người thân ra đi không về là minh chứng đắt giá nhất cho cái giá của độc lập.
Dù Mẹ đã đi xa, nhưng hình ảnh Mẹ Thứ sẽ còn sống mãi trong tâm khảm của triệu người dân Việt Nam, trở thành điểm tựa tinh thần vô giá cho dân tộc qua mọi thời đại.

